Di tịch Đền thờ, Lăng mộ Tiến sỹ Trần Xuân Yến - Di tích văn hóa cấp tỉnh
Vào đầu thế kỷ thứ 19, di tích đền thờ Lăng mộ Tiến sỹ Trần Xuân Yến được xây dựng tại thôn Tiền xã An Châu cũ (Nay thuộc Tổ dân phố Tiền phường Thành Đông thành phố Hải Phòng). Thuộc xã An Lạc Tổng Trác Châu, huyện Thanh Lâm Phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chính phủ điều chỉnh địa giới hành chính hai xã An Lạc và Trác Châu. Làng có Trần Xuân Yến - sinh năm 1689, năm 32 tuổi, thi đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ hai (1721). Ông được triều đình phong chức Quốc Tử giám Tế Tửu (tương đương Hiệu trưởng trường Đại học Quốc Tử giám). Sau đó được phong tặng "Hàn lâm viện thừa chỉ" . Trải qua 30 năm (1721 - 1751) phục vụ bốn đời vua Lê Dụ Tông, Lê Duy Phường, Lê Thuần Tông và Lê Y Tông cùng hai vị chúa là An Đô Vương Trịnh Cương và Hy Nam Vương Trịnh Giang thảy đều thịnh trị.
Trong thời gian lưu lại Thăng Long trông coi việc học hành của các sĩ tử dòng dõi hoàng tộc và quan lại ở kinh đô, ông lưu tâm quan sát, đến thực địa nghiên cứu, học được nghề làm cốm nếp của làng Vòng ở vùng ngoại vi đất kinh kỳ. Cốm Vòng là đặc sản nổi tiếng của Thăng Long, từng được dùng để tiến vua. Không chỉ là quà quý, cốm Vòng còn là di sản của văn hóa ẩm thực Việt Nam.
Ông quyết tâm mang nghề làm cốm nếp làng Vòng từ Thăng Long về truyền dạy cho dân làng. Nghề cốm nếp du nhập vào làng Thạc từ đó và lưu truyền đến tận ngày nay sau gần 300 năm.
Cốm làng Thạc không chỉ là quà quý của đồng quê mà còn là nét tinh tế thanh lịch của văn hóa ẩm thực tỉnh Đông, có quan hệ thân tình với cốm Vòng Hà Nội. Có nghề làm cốm, cộng với nghề chính làm ruộng - dĩ nông vi bản, dân làng Thạc có đời sống kinh tế sung túc. Do đó họ càng biết ơn vị tổ nghề Trần Xuân Yến đã đem nghề làm cốm về truyền dạy cho dân làng. Đối với quê hương, vốn lấy đức làm trọng, ông còn ban cấp 4 mẫu ruộng huệ điền và nhiều tiền bạc cho dân hai thôn Giáp Tiền và Giáp Thượng, được dân làng tôn vinh là Hậu Thần, hàng năm cúng giỗ.
Sau khi Trần Xuân Yến qua đời (1751) triều đình nhà Lê đã cho đưa thi hài từ Thăng Long về quê chôn cất, cho dựng đền, xây lăng để phụng thờ và được nhân dân suy tôn là Thành Hoàng làng. Hàng năm, vào ngày mất của ông (ngày 27 tháng 2 âm lịch) xã quan và dân làng tổ chức dâng hương tưởng niệm Trần Xuân Yến rất trọng thể.
Các di tích liên quan đến Trần Xuân Yến gồm có Đền thờ. Thoạt đầu chỉ có một ban thờ lộ thiên gồm 1 bệ và 1 tấm hậu bằng đá xanh. Về sau nhân dân xây thêm hai tầng ngoài bằng gạch ghép vào tạo thành hậu bành và một công trình nhỏ để che nắng mưa gọi là nhà hậu bành. Kiến trúc hình vuông (2,1m x 2,1m). Kết cấu chính gồm 4 trụ gạch và 4 mái lợp bằng ngói vuông. Hai bên ban thờ đặt 2 con nghê đá, theo thế đối xứng, chầu về trung tâm. Liền sau nhà hậu bành là đền thờ Trần Xuân Yến. Công trình có kiến trúc kiểu chữ nhất gồm 3 gian nhà xây gạch, lợp ngói bài trí nội thất gồm 3 khám thờ Trần Xuân Yến (giữa) và hai phu nhân (hai bên). Chính Thất là Nguyễn Thị Sơ hiệu là Từ Thục, Tiết nghĩa phụ Nguyễn Chửu hiệu là Diệu Khang.
Lăng - tương truyền khu lăng (sinh phần) do một số học trò hiếu nghĩa đầu tư xây dựng để ghi nhớ công lao dạy dỗ của thày khi làm việc ở Quốc tử giám. Sau khi Trần Xuân Yến qua đời, công trình được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII, chất liệu bằng đá xanh trên diện tích khoảng 130m2. Bài trí nhà thờ tự câu đối theo một đường "Thần Đạo". Từ ngoài vào trong gồm có một đôi chó đá, một đôi nghê đá, một đôi thống đá, một kỷ đá và một long ngai đá.
Mộ - đây là di tích gốc, không gian thiêng liêng của Tế tửu Quốc Tử giám. Trần Xuân Yến, sau khi ông qua đời tại quê hương. Mộ phần xây thấp theo thể khối hình chữ nhật, phía trên trạt phẳng, phía trước mộ đặt một bia hình trụ (0,3m x 0,36m x 2,1m) chất liệu bằng đá xanh. Mặt trước bia khắc chìm 13 chữ Hán "Hoàng Lê triều tứ Tân Sửu khoa tiến sĩ Trần công chi mộ" nghĩa là: Mộ của Trần Công Hoàng đế triều Lê ban tặng tiến sĩ khoa Tân Sửu".
Đền thờ, lăng, mộ Trần Xuân Yến đã được UBND tỉnh Hải Dương xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 629/QĐ-UBND ngày 17/02/2005.